Các nguyên tắc xét xử của Tòa án

Các nguyên tắc xét xử chung của Tòa án:
1. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: Đây là nguyên tắc chỉ đạo, bao trùm nhất, được thể hiện trong tất cả các hoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung và trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân nói riêng. Trong hoạt động xét xử, để bảo đảm cho nguyên tắc này không bị vi phạm, đòi hỏi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân (HTND) phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, từ các quy định của pháp luật tố tụng đến các quy định của pháp luật về nội dung.
2. Việc xét xử của Toà án nhân dân có HTND tham gia, việc xét xử của Toà án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật tố tụng. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán. Tuỳ từng loại vụ án cụ thể mà nguyên tắc này được quy định tại các điều luật tương ứng của BLTTHS, BLTTDS, Pháp lệnh tổ chức TAQS, PLTTGQCVAHC.
Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán cần được hiểu là khi xét xử bất kỳ một vụ án nào thuộc thẩm quyền của Toà án mà có Hội thẩm tham gia, thì Hội thẩm và Thẩm phán có quyền ngang nhau trong việc giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án, không phân biệt vấn đề đó là về mặt tố tụng hay về mặt nội dung.
3. Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp. Nguyên tắc này được thể hiện ở các mặt sau đây:
- Thứ nhất là khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm không bị ràng buộc bởi kết luận của Viện kiểm sát, không bị chi phối bởi ý kiến của nhau. Thẩm phán, Hội thẩm phải chịu trách nhiệm đối với ý kiến của mình về từng vấn đề của vụ án.
- Thứ hai là Thẩm phán và Hội thẩm độc lập cũng có nghĩa là không một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm.
- Cần chú ý là sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử phải gắn liền với việc tuân thủ pháp luật.
4. Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định (trường hợp cần xét xử kín để giữ gìn bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của các đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ)
5. Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số
- Toà án xét xử tập thể có nghĩa là việc xét xử bất cứ một vụ án nào, theo trình tự nào cũng do một Hội đồng thực hiện. Thành phần Hội đồng xét xử (HĐXX) ở mỗi cấp xét xử đối với từng loại vụ án được quy định tại các điều tương ứng trong pháp luật tố tụng; cụ thể như sau:
- Đối với vụ án hình sự:
+ Thành phần HĐXX sơ thẩm;
+ Thành phần HĐXX phúc thẩm;
+ Thành phần Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm (Hội đồng GĐT, TT)
- Đối với vụ án dân sự (các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động):
+ Thành phần HĐXX sơ thẩm;
+ Thành phần HĐXX phúc thẩm;
+ Thành phần Hội đồng GĐT, TT .
- Đối với vụ án hành chính: thành phần HĐXX sơ thẩm; thành phần HĐXX phúc thẩm; thành phần Hội đồng GĐT, TT.
7. Toà án xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội; cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật
8. Toà án bảo đảm cho những người tham gia tố tụng quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước Toà án
9. Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng tại Toà án là tiếng Việt; do đó, trong trường hợp có người tham gia tố tụng không biết tiếng Việt thì cần phải có người phiên dịch.
10. Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử.

Các nguyên tắc đặc thù các loại án:
1. Trong tố tụng hình sự:
- Bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo. Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Cần chú ý là trong một số trường hợp Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho bị cáo hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình;
- Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật ;
- Xác định sự thật của vụ án. Khi xét xử Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo;
- Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về người tiến hành tố tụng, trong đó có Thẩm phán, HTND. Bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
2. Trong tố tụng dân sự:
- Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự;
- Cung cấp chứng cứ và chứng minh là quyền và nghĩa vụ của đương sự. Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp BLTTDS có quy định;
- Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự;
- Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự;
- Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS.
3. Trong tố tụng hành chính:
- Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự ;
- Cung cấp chứng cứ và chứng minh là quyền và nghĩa vụ của đương sự ;
- Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính;
- Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự ;
- Toà án không tiến hành hoà giải, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Toà án tạo điều kiện để các bên có thể thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án